0913_logo_copy

Có Không Không Có .Llưỡng diện của tính “KHÔNG”.. Bát Chánh Đạo hay (the Eight ways fold) trong vật lý..Sóng sác xuất hay Sóng hiện tượng Dông Duy (Bài 2 hiệu chính)

Tuesday, December 15, 201512:00 AM(View: 42453)

 

 

Có Không Không Có

Tính lưỡng diện của tính “KHÔNG”

 

Vị trí của một hạt lượng tử mãi giữ nguyên không thay đổi ?

Câu trả lời là “không”

Vi trí của một hạt lượng tử luôn luôn thay đổi theo thời gian ?

Câu trả lời là “không”

Có phải lượng tử đó đang di động?

Câu trả lời là “không”

 

Đức Phật cũng giải đáp như vậy khi có người hỏi về

tình trạng bản thể của con người sau khi chết.

Trả lời theo kiểu nói trên không phải là câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 va 18

J. Robert Oppenheimer

 

Cứ vài trăm năm hình như nhân loại lại xuất hiện một vài tiên tri lớn hay nhỏ.

Tiên tri lớn như Lão tử, Phật Thích Ca, Chúa Jesu, Mohamed đã cố truyền đạt cái huệ nhãn của mình cho hàng triệu triệu người về cái lẽ huyền nhiệm của hiện hữụ.
Hiện hữu của con người và ngay chính vũ trụ qủa là một huyền nhiệm khó diễn tả trọn vẹn và rốt ráo bằng ngôn ngữ và trí thức con người dù là bậc thánh nhân đã đáo bỉ ngạn, cũng chỉ nói lại với loài người môt phần nhỏ thôi , như đưa cho người đời một cây gậy dò đường.

Cũng có những tiên tri nhỏ hơn như Trạng Trình ở Việt Nam, Nostradamus ở Pháp, hoặc những người không được gọi là tiên tri nhưng thực sự đã và đang làm công việc của những tiên tri, dù thứ ngôn ngữ của họ có khác với Phật, Chúạ

Đó là những nhà toán học, những khoa học giạ

Khả năng điễn đạt, thuật ngữ có đổi khác theo thời đại và trình độ giác ngộ của chúng sinh nhưng đường như họ theo đuổi cùng một mục đích của những tiên tri từ ngàn xưa là nói lên cái bí số của vũ trụ mà họ cảm nhận được qua một hiệp thông kỳ diệu với thượng đế.

Aristotlés  429- 423 BCET cho rằng mọi vật chất trong vũ trụ đượïc tạo thành từ 4 yếu tố chính là :
đất, nước, gío, lửạ . Lạ thay phương Đông cũng tin như vậỵ

aristotle_altemps_inv8575_0-content

 Không có sự hiệp thông mặc khải đặc biệt này khó có thể một con người trong xác phàm thế nhân như Democritus, Plato, ngay từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên đã có thể nhìn một ngọn núi, một con sông mà lại hình dung ra được một ý niệm về những nguyên tử cực kỳ nhỏ bé, cực kỳ trừu tượng.

Những Atoms, tiếng Hilạp Atomos có nghĩa là không thể cắt chia nhỏ thêm được nữạ.
Atom său này gọi là nguyên tử và người ta cũng biết thêm là nguyên tử vẫn có thể cắt chia thêm thành những thành phần nhỏ hơn, nhỏ hơn nữa, và có thể sẽ còn nhỏ hơn nữa trong một cái biển không đáy của những hạt tử của thế giới hạ nguyên tử (Subatomic)

Mọi vật trên thế gian này, theo những triết gia trong trường phái Atomist là do sự kết hợp của những đơn vị rất nhỏ, nhỏ nhất, không thể phân chia thêm được nữạ. Atom có nghĩa là không thể cắt chia thêm nhỏ hơn.
Những atomos này va vào nhau, xô đẩy hổn loạn hoặc dính vào nhau để hình thành vật mọi chất trong toàn thể vũ trụ và được chứa trong một không gian tuyệt đối trống không (void). Tuyệt đối không có gì, không ngay cả cái không bới vì khi nói “có” cái không thì phải hiểu là đã hàm chứa có cái “có”

Sự mô tả cái không này mang tính triết học và toán học trừu tượng.

Con mắt nào giúp họ nhìn thấy những điều không thể thấy bằng mắt phàm của thế nhân, nếu không là con mắt thông thiên của những tiên trị

Chính Plato cách đây cả ngàn năm còn cho rằng căn bản của hiện hữu là một sự thể hiện (manifestation) “tính lưỡng diện” giữa có và không. Nói khác đi, không thể có cái gọi là có nếu không có cái không và ngược lại.

Tính lưỡng diện này được nói rất rõ trong nhiều tôn giáo Đông Phương , từ Veda Umpanissad , đạo Phật và đạo Lão vv...

 Theo Plato, cái thế giới vật chất trong đời thường ở bản thể vốn dĩ là vô thường, không có thật, biến đổi thiên hình vạn trạng, chỉ là hình ảnh hay bản sao của một thế giới thật.!!!!

Những tư tưởng này xét cho cùng có khác gì quan điểm sắc không và “Thân Ý Tưởng Hành” của Phật giáo hoặc như mới đây lại có nhưng lý thuyết cho rằng vũ trụ mà chúng ta đang sống (tất nhiên bao gồm cả con người) chỉ là những hình ảnh được chiếu rọi từ những dữ kiện trong một mạng toán học “ma trận” hay Matrix.

Sự chiếu rọi này tạo thành những Hollogram ảo huyễn khiến chúng ta tưởng đang thực sự thấy, một sự vật trong một không gian 3 chiều nhưng thực ra chỉ là sự thị hiện phóng ảnh những “dự kiện số “(digital informations) từ một không gian hai chiềụ

earth_hollogram-content


Mở một giấu ngoặc .( Dữ kiện số là những chi tiết để mô tả một thực thể bằng những con số trong hệ thống nhị phân (binary). Hệ thống này chỉ có hai con số chính là hoặc không , on hay off , đúng hay sai (true false) 0 hay 1.)

Hiện nay thì các hệ thống ứng dụng kỹ thuật số để lưu trữ và sử dụng digital informations đã trở thành quá quen thuộc như thấy trong các computer, truyền hình, máy ảnh vv..


Ý niệm về hai chiều hay ba chiều không gian thật ra chị là một ý niệm tương đối tùy theo khung quy chiếu của quan sát viên.

Theo Einstein thì chiều thứ tư là thời gian và còn có thể có thêm nhiều chiều khác. Trong cái khung quy chiếu của thế giới khổng đại (Lấy chuẩn là con người)

và theo chủ quan, kinh nghiệm của con người thì chúng ta đang sống trong một không gian ba chiều dài rộng cao.

 

Một thí dụ hiển nhiên nhất về ý niệm chủ quan là trước đây nguời ta nghĩ trái đất là một mặt phẳng hình vuông trôi trong không gian. Trong thực tế đời thường cảm nhận dưới chân chúng ta quả là một mặt đất bằng phẳng dù mặt đất thực ra uốn cong.

earth_from_the_moon
 









Lúc chụp tấm hinh này thì bạn đang ở dâu

đang làm gì, đang yêu hay đang thù hận,

Không cần nói nếu nhìn từ một thiên thể

cách xa trái đất 1000 năm ánh sáng, chỉ cần

nhìn từ mặt trăng thôi , hãy hỏi CHÚNG TA

CÓ HIỆN HỮU HAY KHÔNG ?)

Bây giờ, nếu xùi xa ra , nhìn từ mặt trăng thì quả thật trái đất là một quả cầu mà mọi sinh vật trên mặt đất không còn kích thước ba chiều nữa mà thu lại, nhỏ hơn một “chấm toán học”. Một chấm mà theo định nghĩa không còn kích thước ba chiều nữa. Một chấm toán học là một chấm ảo. Mọi sinh vật, mọi hiện hữu trở hư ảo.

nasa-solar-system-graphic-72-content

  Lùi xa tới những thiên thể ở ngoài dìa thái dương hệ như Thổ tinh Thiên vương tinh Hải vương tinh thì ngay cả trái đất cũng chỉ là một chấm mờ nhạt không có kích thước. Xa hơn nữa ngoài dìa của giại ngân hà hay xa hơn nữa trong kích thức vô cùng của vũ trụ thì trái đất cùng mất hút trong hư ảo cùng với toàn thể chúng sinh hữu tình hay vô tình

Thái Dương hệ

saturn_and_earth-content







Trái dất chỉ là 1 chấm li ti ngòai dìa Saturn

milky_way-content










Trái dất 1 chấm li ty ngòai dia giải ngân hà

unicers_where_the_earth_where_are_you-content








Trái đất đã tan vào mộng  ảo

Giữa vô cùng vũ trụ

Tôi ở đâu....anh ở dâu...ai hiện hữu.

Có thay đổi được khung quy chiếu hay không ? Tất nhiên được.


Khung quy chiếu của một phi hành gia khác một người trên mặt đất. Khung quy chiếu của một thiền sư đáo bỉ ngạn khác chúng sinh tham sân si hỉ nộ ái ố như chúng ta.

Nếu đi theo chiều ngược lại trong thế giới tế vi siêu nguyên tử , giả thử có một sinh vật nhỏ hơn nguyên tử thì cái thế giới hai chiều mà chúng ta phóng chiếu trên màn ảnh ti vi có lẽ không bẹt hai chiều như cách nhìn của con người đang theo rõi một trận đá banh hào hứng... mà có thể như chính vũ trụ mà chúng ta đang nhìn ngắm.

Tất cả hiện hữu tuỳ thuộc vào sự lựa chọn khung quy chiếu.

Vì trí óc con người chỉ ghi nhận hay chỉ hiểu được những tin tức (thí dụ hình ảnh hay âm thanh) dưới dạng Analog tức là những tín hiệu đến với giác quan của chúng ta và được xử lý qua ngả ngũ uẩn giống như mộït dòng liện tục, không phải là những con số dứt đoạn, đơn lẻ 1 hay 0 của toán học boolean nên trong ứng dụng thực hành người ta phải qua môt hệ thống biến đổi từ digital thành analog hay ngược lại.
Nếu không có sự hoán chuyện này thì mọi hình tướng xuất hiện trên màn hình chỉ là một chuỗi những con số 1 và 0.

Một hình nổi hollogram, là phóng ảnh những chi tiết về một thực tại dưới dạng nhưng “dữ kiện số ”, nên nguồn gốc chỉ là những con số mô tả một vật thật trong đời thường.

Thí du,người ta quay đoạn phim một con hổ đang vồ mồi bằng kỹ thuật số sau đó được chiếu rọi với kỹ thuật Hollogram tạo thành những hình thể nổi 3 chiều trong không gian khiến người ta sẽ không thể phân biệt được thật hay giả . Mọi chi tiết của con hổ Hollogram nổi cộm trong không gian ba chiều mặc dù người ta có thễ đi xuyên qua những Hollogram này.

hollogram_projector-content


Tất nhiên đây chỉ là một thí du minh họa về sự chủ quan, thiếu sót khi nói hay ghi nhận về thực tại hay hiện hữu. Tương tự như khi đức Phật dùng “dương diệm” để nói về sự sai lệch, nhầm lẫn trong nhận thức về thực tại.

Dương diệm là ảo gíac của một người khát nước nhìn môt hồ nước trong sa mạc mà trong thực tế chỉ là hình bóng long linh của những lớp không khí có chiết xuất khác nhau vì khác biệt nhiệt độ.

Kỹ thuật Hollogram hiện nay không còn là chuyện lạ nữa mà đã được thực hiện trong nhiều trò giải trí có khả năng đánh lừa tri thức con ngườị Ý niệm về thật và giả hoà dần vào nhau.

Mới nhất giáo sư Brian Greene thuộc dại học Colunia trong cuốn sách nhan dề "không gian 3 chiều chỉ la phóng ảnh từ những dữ kiện chứa trên mộ mặt phẳng 2 chiều , giống như những dữ kiện về một cá nhân dược in trên con chip nhỏ của tấm thẻ tín dụng.

ong_giao_su1-content











(Hình chụp ông giáo sư bằng sương bằng thịt)

ong_giao_su_va_hollogram-content











Ông giáo sư và Hollogram

cham_mat_voi_ao_giac-content












(chạm mặt với ảo giác)

Ông giáo su biết rõ cái hình bóng bên cạnh ông

là huyễn, là ảo vì ông ta ở một cảnh giới khác

bên ngoài cái hologram..

Nhưng biết đâu đấy, cả vũ trụ này có thể chỉ

là ảnh hiện trong một "game" vui chơi

của một "người" nào đó ngoài cảnh giới của

chúng ta.

Nếu chúng ta "đang ở trong, hay đang là"

một Hologram như chứng minh của giáo sư Brian Greene

hay giáo sư Leonard Suss kind của đại học Stanford 

thì chúng ta sẽ không thể nhận ra được

bản thể thực của mình



phat_giay_dung_phan_biet_that_gia-content











Phật giáo khuyên đừng cố phân biệt thật giả

hãy có cái tâm không phân biệt vì tận cùng, rốt ráo ,

mọi thị hiện của sắc giới chỉ quy về một mà bản thể

của MỘt chính là KHÔNG vì ...(Chân không diệu hữu)

vu_tru_hinh_chieu_hollogram-content











Vũ trụ hiện hành chỉ là một ảo giác do phóng chiếu

dữ kiện từ một mặt phẳng hai chiều của một

chân trời hiện tượng bên ngoài black hole

vietnam_outer_space_0-content











Quê hương tôi ( Viet nam) nhìn từ không gian. Những gì

đang diễn ra khi chụp tấn hình này ...

..yêu ghét, thù nghịch,bạo hành, chiến tranh

gì nữa??!!!!


Giả thuyết này khởi dầu với việc khám phá trên lý thuyết toán học là những Black Hole không tiêu diệt dược tuyệt dối mọi vật chất rơi vào nó.


Có lẽ cần ngừng ở đây để nói một chút về những Black Hole.

Như nhà Phật nói có sinh thì có hoại và sẽ có tái sinh.

Không chỉ con người mà ngay cả những thiên thể, những ngôi sao cũng trải qua một chu kỳ “sinh lão bệnh tử". Khi còn trẻ trong ruột ngôi sao sôi sục năng lượng do phản ứng hạch tâm gọi là phản ứng fusion atomic. Nói đơn giản là nhập hai nguyên tử vào nhau tạo thành một nhân mới. Hiệu quả là sự phóng thích năng lượng vĩ đại như sức nóng mặt trời hay trong những lò nguyên tử.

Năng lượng trong lòng ngôi sao tạo sức chống đỡ, giống như quả bóng căng hơi, gíup nó không bị sụp xuống. Trong lòng trái đất và mặt trời của chúng ta cũng sẩy ra hiện tương infusion nguyên tử tương tự.

Về gìa, hết dần nguyên liệu, trọng lực của khối vật chất trong ruột ngôi ngôi sao sẽ làm nó sụm suống, thun nhỏ lại và càng khiến khối vật chất của nó ngày một đặc hơn. Thí dụ một mẩy bằng đầu kim “có thể” nặng cả ngàn tấn.

Một ngôi sao có đường kính bằng khoảng 10 mặt trời vào giai đoạn chót sẽ thun nhỏ lại, chỉ lớn bằng quả bưởi và còn tiếp tục nhỏ mãi khiến khối vật chất vĩ đại của nó bị nhốt trong một thể tích rất nhỏ.

Theo thuyết tương đối của Einstein thì các khối lượng của mọi vật chất sẽ tạo ra chung quanh nó một trọng lực trường làm không gian cong lại.

Ở một ngôi sao hấp hối, khối lượng vật chất nén ép trong một không gian ngày một nhỏ bé hơn sẽ gia tăng “trọng lực trường” kiến không gian chung quanh nó ngày một cong hơn cuối cùng sẽ túm lại như một cái dọ thắt nút nên gọi là Black hole (lỗ đen) .

black_holes_-_monsters_in_space

Để có một hình ảnh minh hoạ, xin tưởng tượng một màn bằng cao su mỏng căng thẳng 4 phía. Ta thả vào đó một hòn bi sắt thì hòn bi sẽ làm màng cao su thụng xuống. Nếu có cách nào làm hòn bi sắt nặng đần lên đồng thời lại thu nhỏ thể tích thì vết thụng càng lún sâu và cuối cùng sẽ khép miệng lại thành một cái dọ.

Black hole giống như câu thơ của Hồ Xuân Hương “một lỗ nông sâu mấy cũng vừa “. Black hole như một quái vật tham lam trong vũ trụ vì trọng lực trường rất cao nên mọi thứ bị hút vào đó , tận cùng, sẽ tan biến trong một "điểm toán học" có tên là "điểm nhất nguyên” (singularity). Ánh sáng cũng không thoát ra được nên người bên ngoài không thể thấy những gì sẩy ra bên trong black hole.

Tuy nhiên người ta khám phá ra là bên ngoài (ở miệng túi black hole) là một vùng không gian loe ra gọi là vùng “chân trời hiện tượng” (Event horizon)nơi mà thời gian chậm đần lại trước khi đứng khựng lại trong Blackhole để hoà nhập cùng không gian.(nơi không gian đụng thời gian trong nhạc Phạm Duy).

Chân trời hiện tượng theo sự mô tả trong vật lý lượng tử là một vùng giới hạn trong "không thời gian-Space time" trong đó thời gian và không gian hòa nhập làm một và những biến cố (nói đơn giản la những gì đang sẩy ra bên trong) không ảnh hưởng tới một quan sát viên ở bên ngoài và những gì vượt qua khu vực này sẽ không thể trở về .


Khám phá mới (thuần toán học) chứng minh rằng mọi vật chất 3 chiều sẽ bị nghiền nát, biến mất trong Black Hole nhưng những dữ kiện của nó không mất được lưu giữ trên mặt phẳng hai chiều của vùng “chân trời hiện tượng” . Kiểu như một người mất tích nhưng để lại nhật ký và giấy tờ tùy thân.

Chính những tin tức informations này được phóng ảnh thành những Hollogram của vũ trụ hiện hành . Nói khác đi, theo giáo sư Leonard Suss kind của đại học Stanford thì “có lẽ”  toàn thể vũ trụ hiện hữu chỉ là một ảo giác (illusion).

Phải chăng Phật từng nói những điều tương tự. (sắc tức thị không, không tức thị sắc)

Trải nhiều ngàn năm từ Phật, Chúa, Democritus, Plato, ở đầu thế kỷ 20 dường như nhân loại vẫn có thêm mộït vài tiên tri mới khi một người như Einstein nhìn bóng nắng lung linh mà lại có thể thấy rằng ánh sáng không chỉ là một tia , moọt thực thể tràn ngập giống như nước hay là một làn sóng vô hình đầy trừu tượng hư huyễn mà ánh sáng cũng là những “Hạt” trương tự như những thi sỹ thường nói về những “giọt nắng”.

Khi nói về “Hạt”, ý niệm đầu tiên đối với một quan sát viên tất nhiên là tính chất không liên tục kế đó là khi nói hạt tức là phải có một hình thể cụ thể( dù không hiện thực được hình thể của hạt quang tử đó thực sự như thế nào)

Không những những ánh sáng là những hạt rời rẽ mà còn là những hạt mà bản chất chỉ là năng lượng.

Những “hạt năng lượng”!!!???

Phát biểu này càng có vẻ khó hiểu hơn vì năng lượng vốn là một điều mà con người chỉ biết được mộït cách gián tiếp qua những thị hiện của nó dưới những dạng khác nhau thí dụ như nhiệt năng, quang năng, động năng nên khi nói về một hạt năng lượng thật là điều khó tưởng tượng, khiểu như những thi sỹ thường nói bóng gió về những “giọt buồn”. Buồn là môt cảm quan trừu tượng làm sao có thể thành giọt được.

Năng lượng là một cái gì mà người ta chỉ cảm nhận được sự thể hiện của nó qua nhiều dạng khác nhau nhưng thực sự không nắm bắt được bản thể cốt tuỷ và chân thật của nó.

Lửa nóng, bánh xe quay, dòng điện làm sáng bóng đèn, đập thuỷ điện đều chỉ là thị hiện của năng lượng dưới những dạng thức khác nhaụ Đó là những hình tướng của năng lượng kiểu như nói rằng lá cây rung động là hình tướng của gío và bản thể của gíó là động năng hay năng lượng dưới dạng chuyển động.vv

Phải đợi tới Einstein với W=MC2 thì năng lượng mới hiện nguyên hình cho con nguời nắm bắt được cái bản thể lưỡng diện của nó. Đó là sự hoán đổi, dung chứa giữa những gì hữu hình, cụ thể, vật chất, cảm nhận được bằng giác quan và một phía vô hình, ẩn hiện và liên tục biến đổi dưới các dạng khác nhau của năng lượng.

Nói khác đi, đây là sự hoán chuyển giữa động và tĩnh, giữa hữu hình và vô hình. Môït sự biến đổi khép kín trong vòng luân hồi liên tục, vô thuỷ vô chung, không có khởi đầu và không kết thúc theo cái nghĩa chữ “Vô Thường” của nhà Phật và nói theo khoa học là định luật bảo toàn năng lượng (không có gì mất đi, chỉ có sự hoán chuyển)

Chúng ta vẫn cảm nhận được điều này mỗi ngày thí dụ gỗ là một vật chất, đốt cháy thành sức nóng hay nhiệt năng, rồi biến thành hơi nước làm đầu máy xe hoả chuyển động nhưng chúng ta không có cái huệ nhãn của Einstein để phát hiện được cái ẩn dụ kỳ lạ mà thiên nhiên ( hay Thượng đế, ông trời) vẫn hé mở từng giây từng phút trước mắt chúng ta thông qua cái ngục tù hạn hẹp và ràng buộc của ngũ uẩn, của sắc giới.

Đứng đưới nắng thấy nóng đơn giản chỉ vì những hạt quang tử làm hết nhiệm vụ thiên sứ dẫn truyền dữ kiện (informations) nên biến thành sức nóng của năng lượng trên da thịt hoặc biến thành một hình ảnh hiện ra trên võng mạc .

Ánh sáng cho ta cái “thức” để “biết” về thực tại, rồi qua những “sắc uẩn” theo lối nói của nhà Phật cho ta thấy, sờ, ngửi, cảm nhận thực tại bên ngoài cái tôi

Tuy nhiên nhìn kỹ lại thì chính “cái biết về thực tại này” cũng chỉ là sự tổng hợp của nhiều dữ kiện do âm thanh, ánh sáng mang lại mà nói cho cùng vẫn không nhất thiết là thực tại đích thực.

Lý do vì chính sự tổng hợp những dữ kiện nầy rất chủ quan, giới hạn. Một tri thức về thực tại có được là nhờ sự kết nối, tổng hợp, minh hoạ môït cách gián tiếp của bôï óc, nhờ những chớp nháng điện trong thần kinh não bộ. Cách cấu tạo của bộ óc hay hệ thần kinh khác nhau ở muôn loài làm thành ý thức về những thực thể khác nhaụ. Nói cho rốt ráo, ý thức về thực tại này vẫn không có một giá trị tuyệt đối về bản thể chân thật của thực tại.

hoa_vang-contenthoa_vang_cuc_tim-content







 

 

 

 

Hoa vàng

dưới ánh sáng cực tím
 
Hoa vàng

dưới ánh sáng thường &   


Mỗi người thấy thực tại một cách khác và rất chủ quan, tạo thành những cái “ngã” cũng rất chủ quan, đầy định kiến sai lầm hoạc chỉ là một thị hiện tương đối.

Một người khiếm thi bẩm sinh , chưa một lần thấy ánh sáng và không gian bên ngoài sẽ ý thức thế nào về thực tại quanh anh ta . Một người sáng đột nhiên bị mù sẽ thấy gì về không gian ba chiều. Không gian ba chiều bây giờ la xúc giác của bàn tay. Con kiến, con dơi, con ong mô tả thực tại khác con người. Mắt loài ong là một tổ hợp nhiều con mắt, như môt tổ ong nhiều mặt gắn trên một mắt chính nên loài ong nhìn bông hoa khác con người. Loài dơi thì không có mắt nên nhìn bằng cách phóng ra một làn sóng radar. Dưới đáy biển sâu, tuyệt đối không có ánh sáng, áp xuất cao kinh hoàng, gần những núi lửa ngầm phun bụi đen nóng bỏng là cả môt đời sống âm u, tăm tối nhưng cũng đầy sinh động, náo nhiệt của nhiều loại sinh vật. Những sinh vật này có cái ngã riêng của chúng hay không, có thể phân loại theo nhà phật là những “hừu tình “ hay không.? tại sao chúng vẫn biết đua tranh dành dựt sự sống.

Nếu nói về sự ghi nhận thực tại thì con người và con ong, con dơi, hay những sinh vật dưới đáy biển sâu, ai tả đúng sự thật. Mà ngay cả bản thể của điều gọi là sự thật cũng không ai định nghĩa được.

Ở mức nào là sự thật hay không hề có sự thật cuối cùng mà chỉ có những lượng tử, những đơn vị gián đoạn của sự thật trong môït chuỗi vô tận của sự thật. Tương tự nhu khi nói về lịch sử, hay chân lý khoa học, chỉ có những độ lượng tương đối và chủ quan của sự thật lịch sử hay khoa học.

Trước kia người ta cho rằng nguyên tử là nhỏ nhất, là đơn vị cuối cùng xây nên lâu đài thực tại nhưng rồi người ta kiếm ra những âm điện tử . Không dừng lại, người ta phá vỡ nhân của nguyên tự để phát hiện những quantum nhỏ hơn nữa , nhưng lepton, quark , nutrinos , gluon, boson, higgs boson, muon,meson, kaon, lambda, barion,pion, graviton, nutrinos vv và sẽ còn nhiều nữa mà cái giới hạn trong sác phàm không thể thăm dò xâu hơn nữa

Triển vọng sẽ không bao giờ chấm dứt trong cái biển không đáy của “hai chiều thực tại”, phía trên là không gian vô tận càng ngày càng lớn, lớn mãi với a tăng kỳ những giải ngân hà, những hố đen lớn hàng tỷ mặt trời và ở chiều hạ nguyên tự với những quantum ngày một nhỏ hơn. Ở đâu là bìa ngoài cùng của vũ trụ và cái gì bên ngoài cái biên giới mà khoa hoc tạm gọi là “không gian tuyệt đối” chị có thể có trong tâm tưởng.

Cái biết về thực tại vì vậy tương tự như chuyện người mù sờ voị

Ngay từ nhiều thế kỷ trước, khoa học vẫn cố truy tầm cái gọi là bản thể chân thật của thực tại nhưng cho đến cuối thế kỷ 19, triết gia, khoa học gia Tây Phương có vẻ vẫn chưa tìm được ngay cả một định nghĩa thế nào là thật, thế nào là giả.

Một khi không định nghĩa được thì không thể nói là biết chắc. Người ta dành nửa câu trả lời cho tôn giáo và triết học để tạm chấp nhận thua cuộc bằng cách “tự chế” chỉ quy về mặt duy vật của những hiện tượng vật lý ghi nhận được qua "ngũ uẩn" rồi đòi hỏi rằng khoa học cần phải kiểm nghiệm bằng thực tế. Đó là tiêu chuẩn của khoa học thế kỷ 18.:

“Mắt chưa thấy, tay chưa nắm vào thì chưa có thật.”

Phải chăng thực tại “có thật” nhờ những phương tiện cảm súc cuả sắc giới theo cách nói của nhà Phật ? hay thực tại chỉ là môt sản phẩm của trí tuệ như Descartes “tôi nghĩ vậy là tôi hiện hữu, Je pense donc je suis”.

Tôi mất bộ óc, không nghĩ được nữa thì những cảm xúc phản xạ có chứng tỏ là tôi còn hiện hữu hay không?. Một người bị hôn mê trong nhiêu năm có còn hiện hữu không và khi anh ta tỉnh dậy nhưng mất trí nhớ có phải với một cái tôi khác không dù thân sác anh ta vẫn là một trước mát một quan sát viên. Luận lý này dựa trên nền tảng cái tôi.Thật ra, dù có cảm nhận , "thức" được Tiểu Ngã hay cái Đại Ngã là không gian bên ngoài, chúng ta vẫn không mang lại được một định nghĩa tuyệt đối về hiện hữu.

Với khoa học hiện nay càng ngày người ta càng nghi ngờ hơn về bản thể của chính cái ngã , cái ta, cái tôi, khi mà người ta có thể ghép cái đầu của ông Einstein vào một cơ thể khác, hoặc khi quan sát sâu xa hơn trong phạm vị tế bào ở mức những phân tử cấu thành chuỗi nhiễm thể ...Hoặc từ một tế bào gốc có thể tạo ra một sinh thể mới, một con bò, một con ngườị. Tất nhiên sinh thể này cũng sẽ có một cái tôi, cái ngã khác và cái ngã này có liên quan gì tới cái ngã của tế bào gốc không.

dna-163466_960_720-content

 Những phần tữ ADN mang tính di truyền có vẻ cũng có cái ngã riêng trong thân thể mọi thực hay động vật trong đó có con người, nếu không tại sao những nucleotide cấu thành nhiễm thể này cũng có nhu cầu sinh tồn để tìm đến nhau, để tạo tác nö74ng sinh thể mới, hay nói cao siêu hơn là chúng cũng có “tánh linh” và mang cái nghĩa vụ kỳ bí trong việc kiến tạo những tế bào của sự sống

Những ADN này được tạo thành bằng cách ghép 4 chất có chứa những nguyên tố chính của sự sống là Oxi, Hydro, nitro, carbon. và Phoshat có tên gọi chung là những Nitrogen containing nucleobase đó là các chất Adenosin (A) Thimine (T) Cytosin (C) va Guanine (G).

Những Nucleotie như ADN hay này được tạo thành theo một cung cách đặc biệt tức là chất A chỉ nối với chất T và C chỉ nối với G liên tục tạo thành môït sợi nhiễm thể.

at_dna_base_pair-content

 

 










base_pair_guanin_cytosingc_svg-content









Thí dụ ở một đoạn nào đó của giây nhiễm thể có 4 thành phần là AACG thì đây là một ổ khoá đặc biệt để tạo ra một đoạn mới tương ứng là TTGC Nếu một đoạn khác của giây nhiễm thể có CTAG thì đọan tương ứng mới thành lập sẽ phải là GATC..cứ theo những ổ khoá mật khẩu này mà kéo dài thàng Gene di truyền của vạn vật. Sinh vật cũng như thực vật.

geneinchromosome-content

Trên phương diện cơ chế hoá học thì không có gì bí mật cả vì đó chỉ là sự thể hiện ái lực âm dương và đinh luật vạn vật hấp đẫn nhờ trong lực trường (gravity). Âm đương hút nhau, một vật có khối lượng đều có hấp lực hai chiều.

Nhìn vào công thức tạo thành ADN người ta sẽ thấy những những nguyên tử Hydrogen kết dính với những nguyên tử Oxy hay Nitro tượng trưng những vạch đứt đọan để điễn tả đây là những mối nối Hydrogen, (hydrogen bond).( coi hinh vẽ tượng trưng bàng những chấm đứt đoạn)

Những mối nối này rất yếu vì chỉ là sự “góp tượng trưng” một âm điện tử của nguyên tử Hydrogen với nguyên tự oxi để cả hai có đủ số âm điện tử quy định cho mỗi quỹ đạo nhất là ở quỹ đạo ngoài cùng của nguyên tử Oxy hay Nitro nhằm đạt tới cái cấu trúc octed bền vững với 8 âm điện ở quỹ đạo ngoại biên.

Cấu tạo 8 âm điện tử này được gọi là cấu tạo Octed (oct là số 8) và là cấu tạo bền vững nhất. Oxygen chỉ có 6 âm điện tử vòng ngoài nên không stable vì thế phải tìm cách chung với hai âm điện tử của Hydrogen làm thành nước H20.

water_molecule_picture




Tại sao có 8 âm điện tử ở quỹ đạo ngoài cùng thì bền vưng và ổn định.

Câu hỏi này dành cho những nhà thần học và triết gia mặc dù giới khoa học đã biết rất rõ về cung cách tổ chức Octeds của những lượng tử hạ nguyên tử (subatomic particles)

 Tuy nhiên có một sự trùng hợp khá lý thú giữa giáo lý của nhà Phật và khoa học khiến những khoa học gia đã dùng tên môt giáo lý cốt tuỷ của đức Phật là quan niệm Bát Chánh Đạo , (Tây phương gọi là The Eight ways fold) để đặt tên cho quy luật về cách sếp đặt những lượng tử hạ nguyên tử như Baryons và Meson thành những đơn vị 8 ( Barion octed).

Khám phá của nhà bác học Do Thái Yuval Ne’ eman đưa tới phát kiến về kiểu mẫu tạo thành những loại Quark khác nhau. Đây là môt vấn đề cực kỳ phức tạp vượt ngoài khuôn khổ hiểu biết của người thường nhưng điều đáng nói là sự trùng hợp của số 8

Lịch sử Phật học cho biết đức Thích Ca, său gần 7 ngày thiền định, đột nhiên khai mở huệ nhãn, và giác ngộ. Său đó ngài đã thuyết pháp lần đầu tiên về con đường giả thoát và chứng ngộ niết bàn trong giáo huấn Bát chánh đạo gồm:

  1. Chánh kiến là “tri kiến về Pháp thân”
  2. Chánh Tư Duy là từ bỏ mọi chấp trước.
  3. Chánh ngữ là hiểu rằng “Pháp vợt trên ngôn ngữ”
  4. Chánh Nghiệp là “tạo thiện nghiệp”
  5. Chánh Mạng là tri kiến các “Pháp (Dharma) không sinh thành biến hoại.”
  6. Chánh tinh tấn là an trú nơi “vô sở cầu”
  7. Chánh niệm từ bỏ “thắc mắc có không”
  8. Chánh định là giữ “tâm vô phân biệt”.

 

 

 Quan niệm của Đại Thừa thì đó là nỗ lực thoát khỏi vô minh mà thoát khỏi vô minh hay sự mù tối là để hiểu rằng thực tính của mọi sự vật nằm trong “Tính Không”.

Tám lời giáo huấn nói trên như những ẩn ngữ, qua nhiều thế kỷ đã để lại nhiều giải thích nhưng có lẽ vẫn không nói hết, nói đúng được dụng ý của huấn từ nếu chỉ quy về cách giải thích mang tính đạo đức hay quy uớc tôn giáo.

Thí dụ có thể được giải thích rất đễ hiểu cho dại chúng khi quy về những dức tính như: Hiểu đúng, Nghĩ đúng, Làm đúng, Nói đúng, Sống đúng, Nỗ lực đúng, suy niệm đúng. Nhưng ....thế nào là đúng khi mà chính Bát chánh đạo lại nói rằng "phải có cái tâm không phân biệt, phải chấm dứt thắc mắc có-không, phái buông theo dòng dạo vô sợ cầu" vv....

 Phải đợi đến cuối thế kỷ 19 với những đột phá về khoa học ,với Einstein và thuyết tương đối,rồi Bohr với cấu tạo của nguyên tử và mới nhất Vật lý lượng tử đà sâu hơn mãi vào thế giới lung linh hư thực của những hạt tử năng lượng hay phóng vào không gian tìm hiểu những Black Hole lớn hàng tỷ mắt trời mà tận cùng là 1 diểm nhất nguyên như một chấm toán học không có kích thước, nơi thời gian và không gian ngưng lại, người ta mới thấy sự gần gũi nếu không nói rất chính sác , rất khai sáng, của bài học bát chánh đạo. 

Đọc Bát chánh đạo, người ta có cảm giác là ẩn dưới những lời giáo huấn có vẻ mang tính đạo đức thường tình của thế nhân dành cho những hành giả, đường như còn là một bản đồ chỉ đường ghi những phương pháp , những kỷ luật trí tuệ cần có để vượt qua bức màn vô minh u tối và đạt tới sự thật cuối cùng và cũng là khởi đầu của của vũ trụ hay của mọi hiện hữu.

Có thể diễn tả Bát chánh đạo một cách cụ thể như thế này được không ? :

“Trước hết phải “Tri kiến về Pháp thân” tức là ghi nhận và hiểu biết về bản thể hiển nhiên của mọi thực tại, mọi hiện hữu và thực tại nằm trong “Chân như” tức là cái chân lý (logic) tối hậu để triển khai và thể hiện thành những quy luật vận hành vũ trụ trong đó có mọi chúng sinh hữu tình hay vô tình, vì thế Pháp thân cũng là “Pháp” và là quy luật vận hành vũ trụ.

Tri kiến về Pháp thân thức là tri kiến về lý do tối hậu của hiện hữu trên con đường tiến tới sự hiểu biết và hoà nhập và đại ngã của vũ trụ, mà tận cùng, rốt ráo, chân thật sẽ là “Tính Không”

Những giáo huấn trong Bát chánh đạo phải chăng cũng chính là con đường, là những phương pháp, là thái độ trí thức mà nhân loại qua ngả khoa học đang vận dụng để truy lùng căn nguyên của hiện hữu

Trên con đường đi này phải “Chánh tư duy” tức là từ bỏ mọi thiên kiến, cố chấp. tạo nên do sự hình thành của tiểu ngã từ lúc sơ cấu tiền hiện hữu. Những cố chấp hay định kiến này làm bức màn vô minh ngày một đày đặc hơn kiến che khuất sự thật hoặc chân lý rất hiển nhiên, rất đơn giản của hiện hữu. Khoa học cùng phái chánh tư duy vì không thể có định kiến, vì tìm sự thật là một cuộc chạy đuổi vô tận

Tuy nhiên cũng phải hiểu là sự thật hay sự giác ngộ cuối cùng sẽ không thể nói lên bằng lời vì ngôn ngữ đúng nhất “Chánh Ngữ” đã vượt trên mọi ngôn từ vì đó là “vô ngôn,.Qua ngưỡng cử gíac ngộ thì càng nói là càng sai lạc.

Khoa học hiện đại cũng bắt đầu ngờ vực về cách diễn đạt của mình và lúng túng khi bước vào thế giới lung linh hỗn độn giữa có và không, cụ thể và ảo giác của thế giới siêu vi hạ nguyên tư.

 Hi vọng cuối cùng là nhờ vào thứ ngôn ngữ tuyệt đôi trong dáng, vô ý ngại của toán học. Tuy nhiên ợ sự thật cuối cùng của giác ngộ thì ngay cả toán học cùng không nói, không diễn tả được nữa

Mọi thị hiện chỉ là những chuỗi duyên khởi bất tận của vô vàn Nghiệp (nguyên do, cause) đưa tới những hậu quả (effect), Nếu hiểu đúng nguyên do (chánh nghiệp) thì sẽ hiểu được hậu quả . Nếu hiểu tới tận cùng một cách đúng đắn theo “Chánh Pháp” thì sẽ thấy mọi Pháp , mọi Nghiệp đều như thế đó, như vậy đó, vốn “không sinh thành biến hoại.”. Amen, Ainsi soit-il ! là như vậy, là sự thật không thể khác được.

 Vì chánh pháp không sinh thành không biến hoại nên muốn hiểu thì cần “Chánh tinh tấn” bằng cách an trú nơi “vô sở cầu” vì phải hiểu mọi biến cố thị hiện đều ngẫu nhiên không hề được xếp dặt ( thực tại chỉ là những làn sóng sác xuất như quan niệm của vật lý lượng tử). Cũng cần phải “Chánh niệm” tức là từ bỏ những thắc mắc , phân biệt Có và Không, vì sắc tức thị không, không tức thị sắc. Đó chính là đạt được “chánh định” của cõi tâm vô phân biệt.

Nếu, đạt được cõi tâm vô phân biệt này là đạt được niết bàn vì lúc đó hạnh phúc, khổ đau, còn, mất, vv... sẽ chỉ là những "thị hiện nhị nguyên" của tiểu ngã sẽ tan vào trong đại ngã , để tận cùng đại ngã cũng tan vào “chân như” là cái không nhưng vô cùng có của “chân không diệu hữu”.

Cái chân không diệu hữu này như Ernes Mach được gọi là một không gian tuyệt đối hoặc theo kinh Vệ Đà thì : “ ngay cả cái không cũng không , không hiện hữu.” 

 

Bát chánh đạo được tượng trưng bằng hình vẽ , không biết xuất hiện từ đời nào, do ai chỉ dẫn, là một bánh xe mà xuy nghĩ xa hơn một chút sẽ thấy có sự tương đồng với biểu tượng của một mẫu nguyên tử với 3 vân đạo âm điện tử mà vòng ngoài cùng có cấu tạo Octed 8 âm điện tử. Những nan xe từ tâm toả ra gợi ý như sức hút của lực điện từ và lực yếu (week force) giữ cho các âm điện tử quay quanh nhân nguyên tử. Trong cùng là nhân nguyên tử với biểu hiệu như những sóng năng lượng liên tục đuổi bắt nhau tạo nên bất tận sự xếp đặt những hạt tử

bat_chanh_dao_eight_way_fold-content


 

 








Bánh xe Bát chính đạo và mẫu ngyên tử 

atom_picture1-large-content

 










Trở lại với cấu kết “octed” trong mối nối Hydrogen mà khoa học hiện đại mượn danh từ “bát chánh đạo” của nhà Phật, người ta thấy chính giữa những phân tử nước H2O này cũng tạo thành những “mối nối Hydrogen” không ngoài “tham vọng” tạo cho nguyên tử Oxygen sự bền vững nhờ có đủ 8 âm điện tử ở quỹ đạo ngoài cùng 

water_molecule_picture



(ít nhất là một ảo tưởng dù chỉ là dựa hơi)

Hình nước với những mối nốiHydrogen lỏng lẻo nên nước chẩy được và bốc hơi khi nhiệt độ cao

Trong trường hợp của ADN tương tự , đây chỉ là môt sự đóng góp hờ (như nối kết nhưng phân tử trong chất nước) rất dễ bể gẫy để thành một ADN mới său khi đã ráp khuôn

dnasplit_in_2-content

 





Gỉai thích và chứng minh như vậy như vậy nhưng người ta không đặt vấn đề là tại sao những phân tử 4 chất ATCG lại có sự khôn khéo để tìm đến nhau như vậy . Ai ? ai đã tạo ra những định luật kỳ bí này. Có Ai không.? Theo Phật thì Ai chính là Chân như, là KHÔNG

Duy lý Tây phương lúng túng hòai vì một cách nào đó, chính những triết gia phương Tây những thế kỷ trước cũng ghi nhận rằng bản thể của thực tại quả tình có mang tính lưỡng diệân, có-không, sáng-tối, âm-dương , sống –chết vv...Có một thứ logic hay định luật nào đó khiến mọi vật, mọi hiện tượng đều tàng chứa đồng thời sự đối kháng và hoà hợp, sự kiến tạo và huỷ diệt

Người ta mơ hồ thấy là dường như mọi chuyện đều hàm chứa một cái gì đó không phải là nó, vừa đối nghịch vừa hoà thuận như mộït đối trọng tất yếu của hiện hữụ

Tính lưỡng diện này thể hiện ngay trong ngôn ngữ. Sướng khổ, vui buồn, cao thấp, lớn nhỏ, cứng mềm, còn mất, sáng tối vv

Trong cây cỏ, người ta có thể thấy cái tính lưỡng diện này khá rõ.

Trong mọi loại thảo mộc luôn luôn có sự hiện diện song hành của hai hoạt chất chực kỳ đối trọi, đố ky nhau như nước với lửa đó là những hoạt chất (Alcaloide) và chất chát (Tanin). Trong cây xanh còn trồng dưới đất, hai loại hoá chất này lại sống hoà thuận, an ổn trong “đời sống” của cây cỏ giống như sự sống và sự chết nằm kề bên nhaụ Thế nhưng, khi bị tách riêng ra rồi hoà trộn lại thì hai hoá chất này không thể đồng thời hiện diện, chúng sẽ tiêu diệt nhau môït cách mãnh liệt, tỷ như có ánh sáng thì bóng tối phải tan đi

Tương tự său này khoa học người ta nói tới những vật chất và kháng vật chất (matter và anti matter), những âm điện tử thật và ảọ (electron và virtual electron)

Với cái yếu tính lưỡng diện này, nếu không có cái nhìn tổng hợp của Đông Phương như trong Rigveda, Lão Tử, hay như với Đức Phật người ta sẽ chạy hoài và không bao giờ tới đích vì con đường lưỡng diện như cứ dài ra mãi, như một người đuổi theo chính cái bóng của mình.

Trong lãnh vực khoa học thực nghiệm, từ thế kỷ 19, Maxwell tìm ra ánh sáng là một làn sóng điện từ. Kiểm chứng và được xác nhận là đúng. Einstein lại chứng tỏ ánh sáng cũng là những hạt gọi là photon mang năng lượng. Phát hiện này cũng được kiểm chứng là đúng trong thực nghiệm.

Vậy thì khi nói sóng cũng là hạt có nghĩa một tình trạng liên tục cũng hàm chưa tính cách ly, rời rẽ. Người ta tạm dừng lại ở đó, chấp nhận nhưng không thể đi xa hơn với câu hỏi tại saọ

Nói sóng là hạt cũng tương tự như nói “có là không” vì sóng thì liên tục mà hạt thì rời rẽ

Khoa học Tây phương tới thế kỷ 19 chưa hẳn cấp nhận cái luận lý thuần toán học kiểu lưỡng phủ nhận (double negation) “ không không là có ” của môn toán học Boolean algebra đã trở thành quá thường như thấy hiện nay trong ngành kỹ thuật số.

Boolean algebra được George Boole hình thành năm 1847 không sử dụng những biến số thập phân 0-9 mà chỉ sài hai biến số là Thật - Không Thật (True - Faulse) 0-1

Trong cách đếm thập phân ngưới ta bắt đầu đếm từ 0 tới 9 là hết số nên trở lại với số 1 thành 10.

Trong cách đếm boolean bắt đầu bằng 0 tói 1 là hết số nên con số 2 trong hệ thống Booean sẽ là 10.

Cụ thể nếu chúng ta có 10 ngọn đèn, không bật ngọn nào cả là 0 bật 10 ngọn là số 2. Biệu tượng này giống với sự đóng mở của một mạch điện

Nhưng điều đặc biệt là hệ thống toán học này còn dùng những biến số liên hệ được gọi là (AND , OR .... Và - Hay Là) .

Những biến số (0 và 1) không theo quy luật tính toán như những con số thông thường thí dụ 1+1=2 hoặc 1+0=1.

Nếu hệ thống thập phân chỉ cho ta ý niệm về lượng thì toán học Boolean còn cho ta môït ý niệm về phẩm, rất cụ thể,  khi được áp dụng thành công trong mạch điện vì điện năng chỉ có hai trạng thái là tắt, bật, đóng hay mở (on off) , từ đó mở ra một thứ toán học mới là ngành đại số nút bật gọi là Switching algebra áp dụng trong việc làm những mạch điện trong những con chip IC quen thuộc của ngành điện toán số còn gọi là LSI (large scale intergrated circuit) tương đương vớùi 1 triệâu transitor hay 100.00 logic gates

chip

 




Áp dụng toán học Boolean vào thực tế cho thấy một cuôc hôn phối tuyệt vời giữa trừu tượng và hiện thực, giữa có và không, thâït và giả, mộng và thực, hoặc ghê gớm hơn cả là có thể “vừa giả vừa thật”. (Chánh niệm từ bỏ “thắc mắc có không”)

 

Như đạo Phật, giác ngộ là khi khong còn thác mắc phân biệt có không để “đồng thời” liễu ngộ được cả chân và giả, cái ta và cái không là ta. Hoặc như Lão tử:

Có cái này mới có cái kia

cài này còn cái kia còn

cái này mất cái kia mất

Cái chữ đồng thời này thật là quan trọng vì nó bao hàm cả tính lưỡng điệntính nhất nguyên của thực tạị Không có cái thật thì không thấy cái giả nhưng không chấp giả thì không có cái thật. Không có bóng tối thì không có ánh sáng như bài kệ sau đây 

Sống không sợ , sợ gì

Chết không sợ , sợ gì

Sống không chết không sống

Sống chết đồng nhất thể

(Hoàng Nguyên)

Său Einstein đến lượt Rutherfort và Bohr. Cái nhìn của con người vào thế giới hạ nguyên tử (sub atomic) ngày một rõ ràng hơn, đồng thời người ta cũng phát hiện là không chỉ ánh sáng mà những âm điện tử, ngoài tính chất thay đổi quỹ đạo hoàn toàn bất chợt không thể tiên liệu, âm điện tử cũng có tính lưỡng điệân  tức là vừa là sóng vừa là hạt được chứng nghiệm trong thí nghiệm hai khe hở.

one_slit-content

 

 

 








Hình 1 anh sáng hoặc electron qua 1 khe không có giao thoa

double_slit_song_giao_thoa2_0




Hình 2 với hai khe hở anh sáng qua hai khe giao thoa

tạo những vạch sáng tối là một tính chất đặc thù của

SÓNG

Kết luận ánh sáng vừa là hạt vừa là sóng

Thí nghiệm hai khe hở này được thực hiện lần đầu tiên bởi Thomas Young năm 1801 trong đó ánh sáng được chiếu vào một tấm màn chắn có hai khe hở .
Những quang tử được ghi nhận trên một tấm màn đặt ở phía săụ

Thí nghiệm này chứng tỏ là những quang tử Photon có thể “chọn lựa” sẽ đi qua hoặc khe số 1 hoặc khe số 2 và sẽ giao thoa tạo thành những vệt sáng tối giống như hai làn sóng va vào nhau .

Điều này chứng tỏ ánh sáng phải có tính chất của một SÓNG nên mới có thể giao thoa.

Khi làn sóng của ke 1 va khe 2 giao thoa ở những vùng biên độ âm và dương của hai làn sóng gập nhau sẽ triệt tiêu lẫn nhau tạo thành một vạch tốị 

Khi 2 biên độ đều dương sẽ cộng hưởng tạo một điểm sáng.

Người ta cũng đặt những màn hình riêng biệt , đón nhận quang tử qua từng khe hở 1 hay 2 để đo riêng rẽ .

Trong trường hợp đo riêng rẽ này người ta ghi nhận những hạt quang tử photon độc lập đi qua từng khe hở của màn chắn và vì chỉ đi qua một khe mà thôi nên không có sự giao tho

 Điều này chứng tỏ photon cũng là HẠT

Său ánh sáng người ta thí nghiệm và đạt kết quả tương tự với âm điện tử hoặc ngay cả những vật thể lớn hơn như viên đạn như nhưng điều đáng nói là càng lớn thì độ chính sác càng giảm.

Tính lưỡng diện Sóng –Hạt này sẽ còn được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn khi người ta đi sâu hơn vào lãnh vực của Vật lý lượng tưû. Lúc đó tính chất sóng của những hạt tử còn được mô tả rộng rãi, bao quát và cụ thể hơn và cũng cho thấy là tính lượng diện này không chỉ giới hạn trong thế giới hạt tử hạ nguyên tử mà một cách nào đó còn chi phối cả thế giới khổng đại trong đời thường của chúng ta 

Những phát hiện ngày một nhiều hơn về tính lưỡng diện của vật chất đối ngịch với trực giác loài người. Để giải thích, người ta buộc phải rút về phạm trù toán học thuần thuý (pure math) vì duy lý của tri thức thông thường của con người không muốn chấp nhận hay bất lực không thể giải thích được tình trạng lưỡng diện vừa có vừa không của thực tại .

Đây cũng là mở đầu của một thế hệ những nhà bác học trong bộ lạc những nhà Vật lý lượng tử.

Trong thế giới vật lý lượng tử (quantum physic), mọi thực tại sẽ trở thành hư hư thực thực, xoá nhoà biên giới giữa có, không, hoà nhập làm một và chứa trong không.

Vấn đề bản thể chân thực cuối cùng hay khởi đầu của thực tại , của hiện hữu không còn cần đặt ra nữ

Có thể mở đầu khuynh hướng này với Werner Heisenberg và một môn tân toán học gọi là Cơ học ma trận ( Matrix mecanic) vì đây là bước đầu tiên mở vào cửa ngõ của quantum physic.

Căn bản Heisenber là một nhà toán học nhưng său khi có dịp gập nhà vật lý học Bohr (người tìm ra cấu tạo chính xác của nguyên tử,) Heisenberg đột nhiên bị quyến rũ với những vấn đề của nguyên tử chưa hoặc không thể giải đáp dựa trên logic thuần vật lý.

Heisenber tin rằng toán hoặc thuần tuý mới là thứ ngôn ngữ tuyệt đối tự do để giải đáp những vấn nạn khó khăn của vật lý.

Heisenberg còn đi xa hơn nữa khi cho rằng những tư tưởng trừu tượng nảy sinh trong trí óc con người luôn có môït quan hệ mật thiết với cuộc đời thực tế.

Nói khác đi, bất cứ điều gì con người nghĩ được trong trí óc đều có thể xẩy ra trong thực tế. Heisenberg nhận ra là ý tưởng, suy tuởng của con người có một hấp lực đặc biệt khiến ông quyết định phụ với Bohr trong việc xử dụng toán học là phạm trù thuần tuý suy tưởng để nghiên cứu thêm về nguyên tử tại Niels Bohr Institute mới được thành lập tại Copenhagen (Hoà Lan).

Tại học viện này ông giám đốc Niel Bohr thu dụng quanh mình những trí tuệ trẻ trên khắp thế giới để cùng làm việc trong mộït tinh thần cởi mở. sinh động, vô chấp, vượt ngoài nghi lễ đẳng cấp.

Đây là tập hợp của một thế hệ những trí tuệ trẻ đầy sáng tạo, nghèo tiền, chưa có nhiều danh vọng nhưng có lòng quyết tâm tạo dựng một cuộc cách mạng khoa học với kỳ vọng sẽ biến đổi hoàn toàn quan nhiệm từ trước về bản thể sâu thẳm của “hiện hữu”. Hiện hữu của mọi vật chất trong đó có con người, vạn vật và toàn bộ vũ trụ.

Său một năm làm việc với Bohn, Heisenberg chuyển sang làm phụ tá Max Born tại đại học Gottingen. Một trong những vấn đề đang làm điên đầu những nhà vật lý trong giai đọan này là câu hỏi :”tại sao những nguyên tử lại phát ra những quang phổ ánh sáng khác nha

Đang say mê làm việc thì Heisenber bị cảm nặng. Để đổi gió và tạm giải toả những xuy nghĩ nhức đầu, ông quyết định đi tới vùng Helgoland nghỉ ngơị Chính nhờ chuyến đi xả hơi này, (tương tự như Planck khi phát kiến được tính bất liên tục của vật chất, mở lối cho Einstein và mở đầu cho quantum physic) , như một tia sét đột phá của mặc khải, chỉ trong một ngày, một đêm Heisenberg phát minh ra ngành toán học mới gọi là Cơ học ma trận. (matrix mecanic)

Người ta nói phát kiến toán học này, như một tảng đá chênh vênh nơi đầu núi bất chợt long ra, tạo thành cả một vụ sụt lở long trời vì quan niệm toán học này giúp kéo những ý tưởng thuần lý, trừu tượng của toán học lại gần hơn với thực tại nhờ đó sẽ là một cung cách mô tả thực tại hiệu qủa hơn

Là môt toán học gia, Heisenberg gạt bỏ sự bận tâm về “cấu trúc vật lý thực của nguyên tự “ mà chỉ chú trọng tìm một “cách diễn tả toán học” về sự trao đổi năng lượng của Nguyên tử qua những con số xếp đặt theo từng hàng , từng cột trong môït hình vuông theo một trật tự hay quy luật tính toán riêng .

Thí dụ như cách cộng “kỳ quái” của một Matrix trong hai “cột số” bí hiểm dưới đây:

matrice1


 

Các phép tính cộng trừ nhân chia của Matrix hoàn toàn khác biệt và phức tạp đối với người thường, nêu lên ở đây mang nhiều tính minh hoạ hơn là chứng minh, vì thế, thường nhân chúng ta có lẽ chỉ nên chú ý vào những áp dụng của nó trong việc giải thích “cung cách thể hiện” của những lượng tử trong đời thường.

Dựa vào nguyên tắc matrix được Heisenberg phác hoạ, Born và Pascal Jordan khai triển rộng hơn và phát hiện ra một điểm quan trọng là thứ toán học mới này lại có khả năng giải thích tốt hơn những vấn đề liên quan tới sự biến đổi mức năng lượng của một nguyên tử vốn không thể nào giải thích được theo cách tính toán của số học thông thường.

Nói rõ hơn, trong vật lý cổ điển, thí dụ khi mô tả trạng thái của một hạt lượng tử người ta có thể nói :

“lúc hạt tử này đang ở vị trí Q =5 với động năng P của nó là 3”

( ghi chú : động năng là tích số giữa khối lượng và tốc độ) .

Thí dụ cụ thể, con voi có khối lượng lớn nên dù di chuyện chậm vẫn có thể húc đổ bức tuờng vì “động năng” cũa nó rất lớn trong khi con nguời có khối lượng nhỏ hơn nên nếu muốn tạo được một kết quả tơng tự sẽ buộc phải di chuyện với tốc độ cực lớn. Tia nước có khối lượng nhỏ nhưng nếu được nén ép để tạo một vận tốc cực cao có thể cắt đứt thép).

Những con số 5 hay 3 này nếu theo cách tính toán thông thường thì có thể thay đổi số hạng (vị trí) mà không làm thay đổi kết quả .

Thí dụ tích số 5x3=15 mà ngược lại, 3x5 cũng =15.

Nói khác đi, (pxq= qxp).

Theo Matrix thì cách nhân này đúng trong thế giới khổng đại nhưng không còn đúng với những hạt tử vì khi nói về hạt tử ở mức nguyên tử hay hạ nguyên tử thì (5x3 khác với 3x5 .....pxq khác với qxp).

Tính toán của Born cho rằng có sự khác biệt giửa hai tích số (qxq và qxp) vì tỷ lệ với hằng số “h” của Planck.

pxq= (h) . qxp

Chúng ta còn nhớ hằng số “h” do Plancs tìm ra để diễn tả về “độ rời rạc, bất liên tục của vật chất”.

Nếu chúng ta sống trong môït thế giới liên tục tức là “h” bằng zero thì lúc đó pxq sẽ bằng qxp.

Cái hằng số “h” này trong đời thường của con người mặc dù rất nhỏ nhưng không thể là 0, nhờ đó mà mọi vậït chất, dù ở thế giới khổng đại trong đời thường hay trong thế giới siêu nguyên tử (Sub atomic) không dính cục vào nhau, nhờ đó mới có đời sống. Gỗ đá, sắt thép, con người và toàn thể

vũ trụ thật ra trống rỗng tạo thành bởi những đơn vị lớn hay nhỏ nhưng tách rời nhau, không liện tục thành một khối

Tóm lại, những trị giá về vị trí và động năng để mô tả một hạt tử không thể diễn tả bằng con số thông thường được mà phải đặt vào hệ cơ học matrix. (matrix mecanic)

Câu hỏi cuối cùng: vậy thì vị trí “THỰC” của một lượng tử là thế nào?

Điều đáng nói là chính cha đẻ của toán học Matrix là Heisenberg khi nghe tin về những công việc của Boren-Jordan cũng không nắm được Cơ học Ma trận (Matrix mecanic) là gì nhưng năm 1925 khi ông tới thuyết trình về những khám phá của mình trong địa hạt toán học tại Canbridge, trong cử toạ có một toán học gia trẻ xuất chúng là Paul Dirac .

Ngay său đó Diarac viết một luận án toán học về Cơ học Ma trận trong đó ông chứng minh là ngành toán mới này sẽ thay đổi toàn điện quan niệm cơ học cổ điển.

Ở Hoà Lan, Heisenberg, Borhn và Jordan đồng thời củng đạt những kết quả tương tự .

Đây là khởi đầu của ngành Cơ học ma trận lượng tử (Matric quantum mechanic) trong đó những hạt tử lưu động (thí dụ âm điện tử, quang tử) không còn được mô tả như như những vật thể cụ thể mà sẽ hoặc “chỉ được mô tả bằng toán học” (hoàn toàn trừu tượng, môt sản phẩm của trí tuệ)

Câu hỏi đặt ra là có thực ngành toán học mới này mô tả được thiên nhiên chính sác, nhất là để mô tả những lượng tử bậc dưới, nhỏ hơn Nguyên tử.

Ở Hoà Lan, nhóm ba nhà bác học Heisenberg Bohr Jordan cũng cố gắng áp dụng môn toán mới này trong việc nghiên cứu quang phổ của nguyên tử Hydrogen và đã thành công nhưng vẫn không biết chắc có đạt được kết quả tương tự với nhửng nguyên tử khác hay không.

Cuộc tìm kiếm được tiếp nối với Wolgang Pauli, một nhà bác học tuổi trẻ tài cao nhưng tính tình bộc trực và nóng bỏng như hoả diệm sơn nghĩ sao nói vậỵ

Một lần khi nghe Einstein trình bầy tại đại học Munich, anh chàng trẻ tuổi Pauli đứng bật đậy nói :

“qúy vị biết không, những gì ông Einstein nói không ngu lắm đâu!!!”.

Rất mau chóng Pauli nhuần nhuyễn ngay môn toán học Matrix và còn đi xa hơn, xác định được quang phổ của nguyên tử Hydrogen khi đặt trong một từ trường hay điện trường. Đây là môt vấn đề hóc búa từ lâu chưa có lời giải đáp.

Trở lại câu hỏi Cơ học Matrix có “thực sự” mô tả được thiên nhiên không?. câu trả lời của những khoa học gia khuynh hướng toán học là:

Matrix mechanic không nhằm mục đích cho người ta một hình ảnh cụ thể (physical picture) mà trái lại chính là tìm một cách né tránh để khỏi phải mô tả thế giới lượng tử bằng những hình ảnh cụ thể.

Câu nói này như hàm ý rằng những lượng tử dưới mức nguyên tử vượt khỏi khả năng nắm bắt cụ thể của con người “mặc dù nó chính là những viên gạch nền móng của lâu dài thực tại”

Những người như Dirac hay Heisenberg thì vẫn khẳng định là con đường đúng đắn đưa tới sự thật trong ngành vật lý phải là toán học.

Không hẳn mọi khoa gia đương thời đều đồng tình với quan điểm mô tả thực tại hay vật chất hoàn toàn bằng toán học , hoàn toàn trừu tượng nên đồng thời cũng có những người đang cố phát triển một quan niệm khác gọi là cơ học sóng (wave mechanics) .

Trở lại vấn đề những lượng tử có tính lưỡng diện vừa là sóng vừa là hạt, Einstein cho rằng trong đường dài người ta sẽ phải tiến tới một định luật chung có thể giải thích cho cả hai trạng thái đối nghịch nhau giữa sóng và hạt của ánh sáng.

Tuy nhiên nỗ lực này vẫn chưa mang lại kết quả nào vì dường như ánh sáng chỉ có thể ở một trong hai trạng thái : Sóng hoặc Hạt.

Bước tiến kế tiếp là của Loui de Broglie khi ông xuy diễn rất đơn giản theo kiểu “so sánh tương đồng” để rút ra một kết luận về bản chất của những âm điện tử .

Theo Loui de Broglie, vì ánh sáng đã được xác nhận lúc là Sóng điện từ (theo Maxwell) nhưng cũng có lúc là hạt ( theo phát kiến của Einstein) nếu làm một so sánh tương đồng để xuy diễn thì những âm điện tử đã được chứng minh và xác nhận là Hạt nên những âm điện tử cũng phải giống như ánh sáng tức là cũng có thể hoạt động như làn Sóng.

Với ý nghị này Broglie suy ra được độ dài sóng của những electron và tin tưởng phát kiến của ông có thể kiểm chứng thực nghiệm.

Theo Broglie, những electron cũng có thể thay đối hướng để bẻ cong chung quanh những chướng ngại vật, tương tự như một làn sóng biển chạy quanh một ghềnh đá. Nếu Electron chỉ là hạt thì sẽ không làm được chuyện bẻ cong quanh những chướng ngại và sẽ chỉ để lại môït bóng đậm khi gập chướng ngại.

Âm thanh cũng là sóng vì thế người ta có thể nghe khi đứng ở một góc tường bên ngoài đường đi của nguồn sóng.

Nhận định của Broglie được Einstein ủng hộ và thông tri với các khoa học gia khác trong đó có nhà vật lý người Áo là Erwin Schrodinger.

Schrodinger đào sâu hơn và đưa ra một phương trình xác định làn sóng của những electron trong nguyên tử Hydrogen (một nguyên tự đơn giản nhất) , chỉ có 2 âm điện tử trên quỹ đạọ. Từ phương trình này ông cũng suy ra được quang phổ của nguyên tử Hydrogen tương tự như kết quả của Bohr nhiều năm trước.

Đây là khởi đầu của “Cơ Học Sóng” song hành với “ Cơ Học Hạt Lượng Tử” của Bohr.

Một loạt những kiểm chứng thực nghiệm khác cho thấy luận điểm của Broglie- Schrodinger là đúng và chứng tỏ những electron vừa là hạt vừa là sóng.

Như mọi phát kiến khác trong lãnh vực khoa học, luôn luôn mở ra những câu hỏi khác để thách thức trí óc con người trước những bài toán của “thượng đế ”.

Nói rằng ánh sáng hay âm điện tử là sóng nhưng sóng của cái gì. Sóng điện hay sóng điện từ vì khi nói tới sóng người ta thường hình dung tới một cái gì cụ thể và mang tính liên tục, (thí dụ sóng nước). Người ta cần mô tả chính sác hơn bản thể của sóng âm điện tử.

song_nuoc-content










Tác giả của cơ học sóng Schrodinger là người đầu tiên đưa ra lời

giải thích lạ lùng khác hẳn những hiểu biết từ trước:

“ Electron không phải là một Hạt. Sóng electron là một làn sóng vật chất thí dụ khi nói tới sóng nước là phải nói tới một làn sóng của “chất nước.” Phân định ra electron như một Hạt là sai lầm và chỉ là một ý niệm tương đối thô

Quan trọng hơn cả, Schrodinger còn nhấn mạnh một nhận định ghê gớm:

“Mọi hạt tử trong thế giới hạ nguyên tử, không chỉ electron, ngay cả toàn thể thiên nhiên này (vốn xây dựng trên cái nền của thế giới nguyên tử hay hạ nguyên tử ) do đó cũng chỉ là:

“Môt làn sóng hiện tượng (phenomenon wave).”???!!!!!

Nói đơn giản hơn cả vũ trụ vật chất này trong đó có người viết và người đọc bài này chỉ là sự thị hiện của làn sóng những hiện tượng. Người ta không thể đào sâu hơn để giải thích cõi nguồn của những sóng hiện tượng này như thế nào vì xa hơn nữa là lại va vào vấn nạn thượng đế.

Born phản đối chuyện “sóng hiện tượng” vì mang vẻ triết học trừu tượng hơn nữa, trong thực nghiệm, người ta đã có thể đếm từng hạt lượng tử thí dụ đếm những electron riêng rẽ với máy đếm Geiger hoặc trong thực nghiệm đã ghi nhận được dấu vết của hững Electron hay những hạt tử để lại trong phòng hơi (cloud chamber) là một dụng cụ để cụ thể hoá sự hiện diện của những lượng tử như electron...

Như vậy, Electron phải thực sự , cụ thể phải là một hạt !

6sided_dice-content










Born chối bỏ, đồng thời trả lời Schrodinger và câu trả lời này là sự chính thức cáo chung của quan điểm “tiền định “ trong vật lý cổ và đã được gắn liền với câu nói bất hủ “ Thượng đế reo súc sắc” (God play dice). Thượng đế “nếu có” là một người mê cờ bạc đã tạo nên vũ trụ này qua những trò may rủị

Phát biểu của Born không những va chạm nguy hiểm đến tôn giáo mà còn làm giới khoa học xuống tinh thần dữ dộị

Theo Born Electron vẫn là hạt và cái gọi là “ sóng Electron” của Broglie-Schrodinger thật ra chỉ là một làn “Sóng sác xuất” cho biết cơ may có thể tìm thấy vị trí của một electron trong không gian. (chuyện may rủi bây giờ thành làn sóng!)

Một làn sóng sác xuất ?.

Đúng vậy, đó là một làn sóng của “rủi may mang tính sác xuất” của ông thương đế ( nếu có) reo súc sắc khi tạo ra vũ trụ này.

Làn sóng may rủi tình cờ này lan truyền trong không gian nhấp nhô, có chổ cao, chỗ thấp, chỗ nhiều chỗ ít, về hình thức giống hệt như mọi loại sóng, cũng có biên độ, tức là độ cao của con sóng là nơi mà người ta có nhiều hi vọng nhất tìm được một hạt tử.

wave2-content

 





Mọi loại sóng đều uốn éo hình sin tức là có đỉnh sóng dương và đỉnh sóng âm , trên phương diện toán học, nếu ta bình phương một con sóng thì sẽ có được môt trị số dương tức là những nơi mà thực tế cường độ sống mạnh nhất, là nơi mà người ta có “nhiều hi vọng” tìm được một âm điện tử. Nói theo toán học thống kê là nơi có sác xuất caọ.


 Để có một cảm nhận rõ hơn về vai trò và tính chất của những âm điện tử, có lẽ cần nhắc lại một chút về những khái niệm ban đầu về nguyên tử từ thời trung cổ cho đến những kiểm chứng chính sác sau này về cấu tạo của một nguyên tử và hoạt động của những âm điện tử khi quan chung quanh nhân nguyên tử.

Ý niệm về nguyện tử thực ra đã được nói tới từ lâu nhưng phải đợi tới những năm đầu thế kỷ 20 thì hình ảnh của một nguyên tử mới được cụ thể hóa qua phát kiến của Rutherfor và những đóng góp tiên khởi của Niel Bohr.

Đặc biệt với mẫu nguyên tử của Bohr thì mức năng lượng của những âm điện tử khi quan chung quanh nhân ỡ những quỹ đạo cố định là những đại lượng gián đoạn. Mức năng lượng có nghĩa là mỗi quỹ đạo của âm điện tử khi quay chung quanh nhân tương ứng với một mức năng lượng.

Gián đoạn cũng có nghĩa là những âm điện tử là những lượng năng lượng độc lập và có thể nhẩy từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác nếu nhận thêm năng lượng hay sẽ phóng thích năng lượng nếu chuyển từ một quỹ đao năng lượng cao sang môït quỹ đạo ở mức năng lượng thấp hơn..

Nói như vậy người ta có thể mường tượng là các quỹ đạo âm điện tử giống như những vòng tròn cố định như hình vẽ giản lược

atom_picture1

 

 


Thực ra các âm điện tử quay chung quanh nhân trong môït khoảng không gian mà vị trí không thể xác định được vì thế chỉ được gọi là những “vân đạo điện tử” .

Vân đạo là đường mây hay toàn thể những vị trí mà âm điện tử “có thể” xuất hiện được mô tả bằng một làn sóng sác xuất

clound_of_electron-large-content

 

 









Dám mây âm diện tử quanh nhân nguyên tử

Phải hiểu là khi nói nơi mà ngọn sóng xác xuất thấp sẽ ít hi vọng tìm được hạt tử nhưng không có nghĩa là tuyệt đối không có mà chỉ có nghĩa là hi vọng tìm thấy môït âm điện tử ít hơn những nơi khác. Làn sóng sác xuất này truyền khắp các hướng không gian.

Tuy gọi là sóng nhưng cần lưu ý rằng đây chỉ là môït là sóng ảo cũa toán học để diễn tả cơ may tìm thấy môït âm điện tử ở một vị trí và thời điểm nào đó khi âm điện tử quay quanh nhân nguyên tử

Nếu ta “bình phương” biên độ này ở một địa điểm trong không gian sẽ có được “cơ may” thấy được một hạt tử nhiều hơn hay ít hơn môït nơi khác. Nên chú trọng tới hai chữ “cơ may vì nó có nghĩa là không bảo đảm 100% hạt tử mà chúng ta muốn tìm có ở đó.

binh_phuong_songcrop-content

waveforms_-content











Cũng phải nhấn mạnh là cái làn sóng “xác xuất” , may rủi mà Born nói tới không là môït làn sóng cụ thể như sóng nuớc, mang tính vật chất (material), như quan niệm lúc đầu của Schodinger.

Đây là một làn sóng chỉ có trong bài toán vi tích phân của những khoa học, toán học gia nhưng một cách nào đó lại cụ thể trong việc tìm vịï trí một electron mà tự bẩm sinh đã mang tính trơn chượt, bất định, không thể nắm bắt cụ thể.

Người ta thực sự chỉ có thể “ước đóan” vị trí và xung động của nó gián tiếp bằng toán học thống kê và không thể nào theo rõi chuyển động của chúng môït cách chính sác như môït vật cụ thể vì nó ở một cảnh giới, một khung quy chiếu khác vượt ngoài giới hạn nhâïn thức của con ngườị

Tóm lại, chúng ta phải nghĩ thế nào về những lượng tử trong thế giới nguyên tử?

Theo Born những lượng tử như nguyên tử, quang tử, âm điện tử quả thật là nhưng Hạt nhưng điều lạ là những tính chất của chúng thí dụ như vị trí trong không gian, động năng momentum, năng lượng lại thị hiện trên môït căn bản rất sác xuất (có thể, may rủi).

 

Cụ thể như khi reo súc sắc có 6 mặt từ 1, 2, 3, 4, 5,6 . Mỗi lần reo cơ may ra mặt số 4 là 1/6 nhưng không thể biết chắc lần reo nào sẽ ra mặt số 6 vì nếu muốn biết chắc kết quả mỗi lần reo thì chỉ có cách ăn gian với thượng đế bằng cách đổ chì hay mài gọt con súc sắc.(tứ lục là lúc trời cho)

Quan niệm mới của vật lý lượng tử không cho phép tiên đoán chính sác của từng sự tiên đoán hay đo đạc riêng rẽ.

Người ta chị có thể biết được “sự phân phối khả dĩ” (probability distribution) của một hạt tử hay một biến cố.

Thí dụ cụ thể, xác xuất cho biết ở Saigon mỗi năm có 100 vụ chó dại cắn người nhưng không thể biết chắc ai trong số 3 triệu người dân của thành phố này sẽ là nạn nhân của chó dạị. Tỷ lệ bị ung thư vú của phụ nử Mỹ là

25% tức là cứ 4 người thì có 1 người bị bệnh. Con số thống kê này âm thầm chi phối 200 triệu dân Mỹ nhưng không thể biết chắc nếu tách riêng từng cá thể.

Điều này khác với vật lý cổ điển, chấp nhận an bình dưới sự sắp đặt tiền định của thượng đế nên giả dụ nếu có được quyền năng của thượng đế thì người ta có thể tiên liệu, biết trước được chuyện gì sẽ sẩy ra cho từng hiện tượng.

Tóm lại, xác xuất lượng tử chỉ là một làn sóng lan truyền trong mọi hướng không gian, thay đổi từ vị trí này tới vị trí khác và được mang tên là “SÓNG SCHRODINGER” để phân biệt với Hạt Matrix Heisenberg.

Khả năng tiên liệu theo thống kê xác xuất như đã thấy không thể hoặc không màng tới việc giải thích từng hiện tượng đơn lẻ nhưng lại rất chính sác khi mô tả hình dạng làn sóng sác xuất hoặc ngay cả biết được nó sẽ di chuyển như thế nào, thay đổi thế nào trong không gian hay thời gian.

Với hiểu biết này, người ta cũng nhận ra là sóng sác xuất của Schrodinger cho chúng ta một nhãn quan mới về sự tương quan nhân quả (causality) ẩn trong những lượng tử hay biến cố.

Định nghĩa thông thường của luật Nhân Quả thì “bất cứ hiện tượng nào thị hiện hay nẩy sinh trong không thời gian (Quả) đều phải do một (Nhân) có trước đó. Cùng môït nhân tạo thành cùng môït quả”.

Theo quan niệm của quantum physic thì ngay cả yếu tố nhân quả cũng là một làn sóng xác xuất.

Chính làn sóng “may rủi” này sẽ là cái Nhân quyết định cái Quả trong tương lai mà không phải là hiệu ứng hay hậu quả của riêng một biến cố đơn lẻ

Nói như đạo Phật thì mọi hiệng tuợng là sự thị hiện của “a tăng kỳ” , vô vàn những “nhân duyên” và său khi những nhân duyên này đã kết thành quã thì chính nó lại trở thành nhân của những biến cố kế tiếp như sự giao thoa vô cùng vô tận, vô thuỷ vô chung của những làn sóng duyên khởi từ vô vàn kiếp trước.

Phải chăng nói như thế thì một vụ sát nhân vừa sẩy ra trong thành phố Sàigon cái nguyên nhân không giới hạïn ở kẻ sát nhân mà phải nói nó chỉ là sự thị hiện (manifest) của làn sóng sác xuất (hay những làn sóng những duyên khởi) kết tụ lại trong không thời gian và được ghi lại một cách cụ thể thành số thống kê “mỗi năm Sài gòn có 300 vụ án mạng.”

Người ta cho rằng cái làn sóng sác xuất kỳ bí này vẫn len lỏi vào đời sống với một sức mạnh thâm hiểm mà ít ai để ý tới (ngoại trừ nhưng chuyên viên system analist ở những hãng bảo hiểm hay những máy kéo jack pot ỡ sòng bài )

Quan niệm này quả thật đi ngược lại trực giác của con người và đầy vẻ hoang tưởng, mặc dù trên mặt lý luận và ngay cả áp dụng thực tế thì quantum physic cũng không hẳn là chuyện hoang đường. 

Niels Bohr và Werner Heisenberg chối bỏ cái quy luật quá hiển nhiên về luật Nhân Quả (môt nhân môt quả) một khi đã bước vào lãnh vực hạt tử quantum

Trong đời thường, nhìn ngắn, rất đễ nhận ra là một hiện tượng được thị hiện trong hiện tại phải do một biến cố, một sự việc, một hành động đã sẩy ra trong quá khứ.

Đun nóng, nước sôi, nước sôi làm bỏng tay, Biến cố mới său đó lại nối tiếp là nguyên Nhân của một biến cố mới trong tương laị Thí dụ vì bị bỏng tay nên đụng xe , đụng xe bị mất việc, mất việc nổi điên giết người ...vv...Theo luật Nhân Quả cổ điển, một biến cố A tạo nên môt hiệu quả B nhưng cái hiệu quả B này không thể ảnh hưởng ngược lại Ạ. Bị bỏng tay xẩy ra său khi nước sôi ...

Những nghiên cứu của đại học Vienna mới đây lại cho thấy là căn cứ theo cơ học lượng tử quantum mechanic thì “một biến cố có thể vừa là nhân vừa là quả của một biến cố khác.”.

Trong đời thường thì chưa có gì để kiểm chứng chuyện hậu quả ảnh hưởng ngược lại nguyên nhân (bỏng tay làm sôi nước) nhưng những xuy nghiệm thuần toán học cho thấy đây là chuyên khả hữu, hứa hẹn sẽ có mộït biến đối sâu đậm trong nhiều lãnh vực khoa học hay thực dụng.

Trong Vật lý cổ điển, những biến cố phải diễn ra theo thứ tự thời gian, có trước có săụ. Một Nhân chỉ tạo được một quả trong tương lai nhưng không thể ảnh hưởng ngược lại trong quá khứ.

Thí dụ ông A bước vào trong một căn phòng và nhìn thấy 3 mảnh giấỵ Sau khi đọc xong nội dung ông ta xoá đi hết và viết ý nghị của mình lên đó. Một người khác là ông B său đó vào căn phòng đọc xong những gì ông A viết, xoá đi và viết nội dung mớị

Nếu ông B vào phòng său ông A tất nhiên sẽ đọc được ông A viết gì nhưng ông A (là nguyên nhân cũa lá thư ) không thể đọc được nội dung của người đếân sau là ông B (hậu quả ) . Những gì ông A viết là Nguyên Nhân đưa tới Hậu Quả là những gì ông B viết.

Dù không có lịch, khi đọc miếng giấy ông ông A để lại, B phải biết ngay là theo thứ tự thời gian, mình đã vào său ông Ạ

 Vật lý Luợng tử vi phạm vào cái luật Nhân Quả nà

Trong thí dụ trên, theo vật lý cổ điển, môt trong hai người , ông A hay ông B có thể đến trước và để lại lá thư cho người đến sau nhưng theo vật lý lượng tử thì thứ tự này “có thể đảo lộn” .

Một vật thể có thể bị mất đi những đặc tính rất minh bạch, rõ ràng như quan niệm cổ điển khi nói về (trước, său, thời gian hay không gian).

Đối với quantum physic thì “mộït hạt tử có thể đồng thời ở hai địa điểm khác nhau” . Điều này gọi là tình trạng chồng đè vị trí ( superposition)

Theo những nhà vật lý tại đại học Vienna thì thứ tự nhân quả của một biến cố cũng có thể ở trong tình trạng siêu vị trí trong thế giới những hạt tử.

Trong tình huống này, dù đến trước hay đến său , cả hai ông A và B đều vừa là nhân vừa là quả của nhau nên có thể đọc được thư của nhau .

Thí dụ ông A viết mặt trăng hình vuông ông B viết phản biện mặt trăng hình tròn.

Nếu ông A vào trước thì ông B là người cãi lại còn nều ông B vào trước thì ông A trở thành phản biện của ông B.

Thư cũa hai ông A và B lại là hậu quả của lá thư có từ trước. Câu hỏi đặt ra là nếu vậy hai ông A hay B có thể là nguyên nhân lá thư có sẵn từ trước trong phòng hay không? và cứ thế ngược lại tới cái khởi đầu tối hậu hay không.?

Quan niệm của Quantum physic cũng hơi khác quan niệm cổ điển về sự lan truyền của những biến cố trong không thời gian khi nói rằng :

“Chính làn sóng sác xuất lan truyền trong không thời gian sẽ thị hiện trong tương lai nhưng cần phải lưu ý, đây không phải là sự lan truyền của từng biến cố rời rẽ”

Một người đa đen vừa bị cảnh sát bắn chết (ở Hoa Kỳ) là môït biến cố đơn lẻ nhưng thật ra nó bị chi phối và nằm trong “làn sóng sác xuất của tổng số 300 người da đen bị cảnh sát bắn chết trong một năm ở Hoa Kỳ”.

Làn sóng này khác với làn sóng xác xuất khác nếu tính số người da đen bị cảnh sát bắn chết trên toàn thế giới”

Nói theo “xác xuất quantum” thì chính làn sóng này âm thầm lan trong không gian một cách kỳ bí và lạnh lùng , tạo nên những hiện tượng tuởng như tình cờ rời rạc.

Phía Einstein vẫn không chịu khuất phục. Ông viết cho Born:

“Cơ học quantum hiển nhiên có sức nặng thuyết phục nhưng trong đáy lòng tôi vẫn nói rằng đây không hẳn là sự thật. Lý thuyết mới về sự phân phối sác xuất của những hiện tượng nói thật nhiều nhưng vẫn không mang chúng ta lại gần hơn niềm bí mật của thủa ban đầu, “the old one”.

Born thì vẫn tin rằng chính cái tính chất “bất định” đầy hoang tưởng nhận thấy ở quantum physic có vẻ như muốn nói với chúng ta rằng :

“Sự thị hiện của nhưng biến cố vật lý không thể tiên liệu hay biết trước được và đây cũng là chuyện mà con người sẽ không bao giờ hiểu được tới tận cùng”.

Không chỉ con người chịu đầu hàng không thể biết khi nào thì một nguyên tử sẽ phát xạ ánh sáng hay sẽ phóng xạ năng lượng, mà có lẽ, ngay cả bộ óc tuyệt đối tối thượng của “thượng đế ” cũng đành chịu thua .

Thượng đế cũng chỉ có thể nói một cách áng chừng, “rất sác xuất” là “may ra thì chuyện đó sẩy ra “ .

Einstein phản kháng với câu nói bất hủ không kém

 “Thượng đế không reo súc sắc..god do not play dice”.

Max Born mặc dù rất kính phục Einstein trả lời :

“Thượng đế đã tạo nên cõi đời này với một cơ chế toàn thiện, toàn mỹ mà không cần phải giải nhiều bài toán vi phân, tích phân khó khăn. Thượng đế chỉ cần biết reo súc sắc là đủ”.

Tóm lại cho đến giai đoạn đó thì hiện rõ có hai cách giải thích những hiện tượng nguyên tử mà ở cơ bản có vẻ vẫn đối trọi nhau giữa sóng và hạt. Cách giải thích bằng cơ học ma trận (Matrix mechanic) hoặc cơ học sóng sác xuất của Schrodinger.

Đến đây thì nhà toán học Dirac nhập cuộc với “lý thuyết về sự hoán đổi” theo đó thì cả hai đều đúng. Ma trận Matrix và sóng sác xuất là hai quan niệm “tương đương” khi mô tả thực tại và có thể hoán đổị

Có thể minh hoạ như sự khác biệt giữa ngôn ngữ và toán học.

Cả hai đều dùng những biểu tượng để diễn tả thực tạị Ngôn ngữ thì phong phú nhưng toán học thì chính sác hơn.

Tiếng Việt nói là cái “Cây” tiếng Mỹ gọi là the “Tree”. Muốn nói hay mô tả một vật chúng ta phải chọn một ngôn ngữ său đó thì phiên dịch sang ngôn ngữ kiạ

Trong toán học, những lượng tử như một âm điện tử tuy được mô tả khác nhau là sóng hay hạt nhưng tựu chung đều nói về cùng một thực thể đó là mô tả một âm điện tử.

Trong luật về hoán đổi (transformation) , những tính chất tiềm ẩn, đặc thù của một vật thể là những “hằng số invarian” hay nói đơn giản là những yếu tố hằng thường (consistance) , chân thật (true) chứa trong bản thể cho phép người ta xuyên xuốt qua những chướng ngại để thấy được bản thể chân thật hay như đạo Phật gọi là thực tánh của một thực thể, một sự vật. Thực tánh này theo đạo phật, tận cùng, rốt ráo đều quy về ý niện “không”

Theo Dariac chỉ có toán học mới có thể diễn tả những Hằng “số củïa thực tại” môït cách “vô ý ngại”, tuyệt đối, vượt khỏi mọi vô minh, vượt khỏi mọi giới hạn của không gian, thời gian.

Cánh nói này là của toán học thuần thúy pure math thật khó để ngươi thường hiểu được thấu đáo nhưng trong khoa học hiện nay mọi sự việc đều được diển tả bằng toán vì thực ra :

“ Những quy luật của thiên nhiên , cái bí số của vũ trụ đều được viết bằng toán học.”

Ngay cả chụp môt ấm hình bằng kỹ thuật số, bật TV lên say đắm theo rõi một chuyện tình thựïc ra không phải là đang theo rõi mộït biến cố hay một hiện tượng mà chỉ là đang coi một bài toán và những con số digital , có và không.

Thực tánh cũa những con số này là gì nếu cuối cùng không quy về cái nền tảng “không”, bởi không nên mới có.

Trải qua nữa thế kỷ của những tranh luận dò tìm, cuối cùng đã rõ, toán học mới là thứ phương tiện tối thượng để diễn tả mọi việc và quan điểm này đã đạt chiến thắng vẻ vang qua những thử thách thực nghiệm.

Bước qua ngưỡng cửa của thế giới nguyên tử, những thực tại vật lý phải được nhìn, được mô tả bằng một phương tiện và cung cách khác như câu hỏi của Heisenberg:

“ Liệu Khoa học hiện đại có thể hiểu được thực tại bằng khả năng của trí tuệ hay không?

Câu trả lời có lẽ sẽ tìm được trong tóan học vì toán học là dụng cụ tuyệt vời của trí tuệ, trong sáng, tuyệt đối để có thể xuyên qua mọi vô minh.

Nói về toán học có lẽ con số kỳ bí và cũng vĩ đại nhất là con số không, zero, vậy thì chúng ta hãy thử ngó qua con số này trước khi tìm hiểu ý nghĩa chữ KHÔNG trong đạo Phật và câu nói ẩn chứa đầy đối chấp “chân không diệu hữu”

 

 

Send comment
Your Name
Your email address
(View: 22884)
Nhà thơ lớn của đất nước Trần Dần là người của phố Sinh từ “ tôi ở phố Sinh Từ ” . Cũng trên con phố nhỏ mang nhiều di tich lịch sử và văn học này sau Trần Dần trên một thập niên một nhà thơ khác ra đời Vũ Đình Khánh trong một giai đoạn căng thẳng nhất của lịch sự, 1946 với bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam său tám chục năm nô lệ. Lớn lên, nổi trôi theo vận nước Vũ Đình Khánh làm thơ và bấm trụ con phố Sinh Từ. Con phố này như mạch máu trong tâm tư ông chất chứa đầy ắp những nhân vật và biến cố gắn liền với đời sống Hanôi, tuổi thơ và dòng thơ của ông.
(View: 29879)
Trong Mắt Bão Lịch Sử Một công trình nghiên cứu công phu lịch sử Việt Nam từ thời Trịnh Nguyễn phân tranh, qua giai đoạn 80 năm nô lệ, qua hai cơn bão lớn nhất thời đại Đệ nhất và Đệ nhị thế chiến, Nỗ lực đấu tranh dành độc lập của Việt Nam qua hai dòng cách mạng Nguyễn Thái Học và Hồ Chí Minh. Người Mỹ qua cơ quan tình báo chiến lược OSS và đại uý Patti. Việt Nam trong mùa cách mạng. Cuộc chiến giữa quan tư tình báo Pháp Sainteny và Hồ chí Minh, Từ bản tuyên ngôn độc lập tới Toàn quốc kháng chiến Đã đến lúc chúng ta phải nghiêm chỉnh dò đường về sử bằng tất cả tấm lòng ngay thẳng, chân thành, không thiên vị chao đảo bởi những thiên kiến thù hận
(View: 20380)
phía Hoa Kỳ, những nỗ lực đả thông tất nhiên sẽ còn phải tiếp diễn vì đó là một nhu cầu mở vào thị trường Á Châu để tranh thủ cái thị trường hấp đãn này với phe thực đân như sẽ thấy trong sứ mạng của sứ thần Balestier său này. Rất không may là hai sứ thầm Hoa Kỹ đã đén việt Nam său vụ thuyền trưởng Jack Điên vô cớ can thiệp vào nội bộ Việt Nam, bắn phá và đổ bộ vào Đà Nẵng .Bién cố náy đã vô hiệu hoá mọi nỗ lực său này của Hoa Kỳ. Său vụ Mad Jack, cánh cửa và vương quốc Việt Nam đóng chặt với người Tây Phương cho đến lúc thực dân Pháp phá cửa xông vào để áp đặt cái gông nô lệ lên cổ người Việt trong vụ tấn công 7 ngày vào vịnh Đà Nẵng của liên quân Pháp- Tây Ban Nha giữa lúc Vua Tự Đức đang hấp hối.
(View: 39028)
Vật chất bị giam cầm trong khung quy chiếu thời gian, không gian và rào cản nên không thể đi qua bức tường hoăc đồng thời có mặt tại hai nơi.Với cơ học lượng tửthì Sự mù mờ, không tiên liệu chỉ xẩy ra khi bướcvao thế giới hạ nguyên tử la những viên gạch xây dựng nên cấu trúc thực tại của vật chất, những lượng tử, những Quantum, thí dụ như những Proton, electron, quark người ta phát hiện là chúng có thể “đồng thời” hiện diện ở nhiều nơi khác nhau Những hạt lượng tử này có thị hiện hay không hoàn toàn do may rủi, tình cờ, có thể. Không thể biết hay tiên liệu chắc chắn. Do do “mọi vật, sinh vật, mà chúng ta cảm nhận được trong sắc giới (trên nguyên tắc luận lý) cũng phải có khả năng đồng thời hiện hữu ở nhiều địa điểm như những phần tử quangtum tạo thành nó.
(View: 48350)
Tri huệ Ba La Mật Đa (đáo bỉ ngạn,... A lại da thức tàng chứa những chủng tử quá khứ , hiện tại và vị lai, mầm của mọi hiện hữu, từ tinh thần tới vật chất , động cơ tiềm ẩn thúc đẩy mọi thị hiện trong hiện kiếp được ghi trong các chủng tử Á Châu gọi là cuốn sách trời (Thiên thư). Phải chăng Higgs Boson chính là những chủng tử đầu tiên hay cái mầm của hiện hữu?. Hiện hữu chợt có khi có một đột biến làm tan vỡ "sự đối sứng tuyệt đối" của không thời gian Space time .World line là sự "tiến hành" của những "vật thể di động" trong không không gian ba chiều nếu theo rõi trong cảnh giới 4 chiều ( khi thêm chiều thời gian. )...... "cấu trúc hình nón của không thời gian spacetime." Black hole, "chân trời hiện tượng" va điểm nhất nguyên noi không gian đụng thời gian
(View: 43109)
Yếu tố “không” (Sùnnyatà) trong kinh điển Phật gíao... “chỉ có ý niệm thuần toàn học này mới cho người ta cái khả năng vượt khỏi mọi cản trở, mọi giới hạn , mọi ràng buộc của ngũ uẩn để tiếp cận cái “không tuyệt đối, không cả cái không” với hi vọng nhập được vào nó như những thiền sư đã “đáo bỉ ngạn”... Phật giáo từ chối trả lời một cách cụ thể câu hỏi về “cái khởi đầu”...... . .Quán không la quán tưởng về cái vô cùng nhỏ và cái vô cùng lớn cho tới một lúc mà cả hai nhập thành một, một nhất nguyên vừa là đầu vừa là cuối, đó cũng là không. Phai chấm dứt “phân biệt có và không.....Vũ trụ chúng ta đang sống là một hiện hữu có giới hạn trong không gian và thời gian, vì thế phải có khởi đầu và sẽ có kết thúc)...
(View: 83775)
Có trong trí nhớ anh Một lúc nào đó em khóc dịu dàng Bão rớt thổi về từ một núi rừng mịt mù ký ức Yêu em Lòng anh hoang sơ như ngọn cỏ Như là sầu đông khô vàng trên những lối lặng câm Bâng khuâng một ngày đời như mây nổi Như đã ngàn năm Thêm một ngày Một ngày yêu em mê mải
(View: 81300)
Còn lại này Em, lời cuối Thôi đành, hạt cát nhỏ phiêu liêu Cho anh xin, Muộn phiền đã chở lời lên khóe mắt Cách chia nào không bóp nghẹn con ti
(View: 84646)
Nắng hè cũ Như đời ta vẫn trôi êm đềm Sóng giòng sông miên man Âm thầm vỗ về giấc mơ Ôi em yêu dấu ơi Có một hôm lối xưa tìm về Gập ta Dòng sông xưa Soi dấu dung nhan buồn
(View: 77542)
Sẽ có bao giờ không em nhỉ ? Lại cùng em về trong những tháng năm xưaTa sẽ nguyện cùng em thu mình thân ốc biển Mặc thời gian dần phủ lớp rêu mòn Xin được ngủ trong dòng cô tịch đó Rồi lắng nghe trầm tiếng bước chân nhung Giòng nước luân lưu thôi xin ngừng trôi nổi Kiếp phiêu sinh này hồn anh gửi trùng dương

GHI DANH NHẬN BẢN TIN
Nhập địa chỉ email.